Từ tượng hình 宿 trong tiếng Trung được viết như thế nào?

Như các bạn đã biết tiếng Trung khác với những ngôn ngữ khác vì nó là ngôn ngữ tượng hình. Có rất nhiều chữ được viết dựa trên những đồ vật , con người quanh chúng ta. Đây cũng là 1 cách để bạn ghi nhớ từ vựng tiếng Trung lâu nhất , hiểu rõ về ý nghĩa sâu sắc hơn của từ. Vì thế mỗi ngày chúng ta cùng học 1 chữ tượng hình trong tiếng Trung nhé! Vừa xem nó được hình thành như thế nào , vừa xem cách sử dụng của nó ra sao , đúng là vẹn cả đôi đường , thế này thì chả mấy chốc chúng ta đều trở thành cao thủ tiếng Trung hết nhỉ? hí hí , mình đùa 1 chút vậy thôi , bây giờ quay lại việc học từ 宿 trong tiếng Trung nhé!

Từ tượng hình 宿 trong tiếng Trung được viết như thế nào?

Từ tượng hình 宿 trong tiếng Trung được viết như thế nào?

Túc 宿 trong từ “ký túc xá”, “tá túc” v.v. là chữ hội ý, gồm bộ Miên 宀 tượng hình mái nhà, dưới mái nhà có chữ Nhân 人 tượng hình người, bên cạnh là chữ 百 vốn tượng hình cái chiếu hoặc giường; hợp lại trỏ nghĩa là ”ngủ, nghỉ”. Như vậy, ký túc xá (ký: gửi; xá: quán, nơi) nghĩa là nơi cho (học sinh, sinh viên) ngủ nhờ (*) và tá túc (tá: mượn) nghĩa là ngủ nhờ.

Trần Thánh Tông có câu: “Triêu du phù vân kiệu, mộ túc minh nguyệt loan”. (Sớm chơi núi mây nổi, tối ngủ bến trăng thanh)

Thiền sư Huyền Quang có câu: “Trúc lâm đa túc điểu, quá bán bạn nhàn tăng”. (Rừng trúc nhiều chim đậu, quá nửa bạn sư nhàn).

Nguyễn Văn Siêu có câu: “Ngư chu xuân tống khách, hồi trạo túc hoa biên” (Thuyền chài xuân đưa khách, quay chèo ngủ cạnh hoa.)

Nguyễn Du có câu: “Cô yên tại thiên mạt, kim dạ túc thùy gia” (Khói lẻ cuối chân trời, đêm nay nghỉ nhà ai)

Nguyễn Khuyến có câu: “Bạch âu mộ hạ túc hàn yên” (Chim âu trắng, chiều tà, hạ xuống nghỉ trong vùng khói lạnh).

(*) Ký túc xá 寄宿舎: là từ do người Nhật tạo nên, người Nhật đọc là /Ki-shuku-sha/ きしゅくしゃ sau đó được du nhập vào các nước Hàn, Trung, Việt. Nay người Trung Quốc quen gọi là túc xá (su she), người Hàn và người Việt vẫn gọi là ký túc xá (ki-suk-sa 기숙사)