Ngôn ngữ và chữ viết của Trung Quốc

Tuy là một đất nước có dân số lớn nhất thế giới, nhưng Trung Quốc vẫn sử dụng một hệ thống ngôn ngữ và chữ viết. Thậm chí số người nói Tiếng Trung Quốc chiếm đến hơn 16% dân số thế giới. Đồng thời trở thành ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới. Hệ thống ngôn ngữ và chữ của Trung Quốc có lịch sử khá là lâu đời. Ở bài viết này, hãy cùng THANHMAIHSK tìm hiểu về ngôn ngữ và chữ viết của Trung Quốc nhé.

SƠ LƯỢC VỀ NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT CỦA TRUNG QUỐC

Ngôn ngữ và chữ viết Văn tự đầu tiên của Trung Quốc là những kí hiệu dùng trong bói toán. Ban đầu được khắc trên mai rùa và xương thú từ thời Thương ( thế kỉ 16 – 11 TCN ). Mặc dù những chất liệu ghi chép khác nhau khiến văn tự Trung Quốc có một vài biến đổi, nhưng xét về tổng thể thì vẫn có tính nhất quán cao. Thông thường, cần phải nhận biết được ít nhất 3.000 chữ Hán thì mới có thể đọc báo. Nhưng một người được học hành đầy đủ nên biết tối thiểu 5.000 chữ Hán để có thể nói lưu loát và làm việc được.

Ngôn ngữ và chữ viết Văn tự đầu tiên của Trung Quốc là những kí hiệu dùng trong bói toán. Ban đầu được khắc trên mai rùa và xương thú từ thời Thương ( thế kỉ 16 – 11 TCN ).
Ban đầu chữ Trung Quốc được khắc trên mai rùa và xương thú từ thời Thương ( thế kỉ 16 – 11 TCN ).

Ngôn ngữ chính thức của Trung Quốc hiện nay là tiếng phổ thông, nhưng trên khắp đất nước vẫn tồn tại rất nhiều tiếng địa phương khác nhau. Mặc dù những người ở các vùng miền khác nhau có thể không nghe hiểu tiếng của nhau nhưng họ vẫn viết cùng một loại văn tự.

NGHỆ THUẬT VIẾT CHỮ

Thư pháp Trung Quốc đã được nâng lên thành một loại hình nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ sánh ngang với hội họa. Chữ viết của Trung Quốc ban đầu được khắc trên xương động vật, sau đó xuất hiện chữ khắc trên đồ đồng và đồ đá. Cuối cùng mới đến chữ viết bằng bút lông trên lụa hoặc giấy. Cùng với sự thay đổi của công cụ viết chữ, phong cách viết cũng càng ngày càng linh hoạt hơn.

Chữ viết của Trung Quốc ban đầu được khắc trên xương động vật

HÁN TỰ

Hán tự là văn tự có thể bao gồm âm, hình và ý kết hợp mà thành. Bộ thủ, thường là phần ở trên hoặc bên trái của một chữ Hán. Bộ thủ có thể là cơ sở để giúp phán đoán ý nghĩa của chữ đó. Ví dụ chữ “tốt” phát âm là hǎo” bao gồm bộ “nữ” (phụ nữ) kết hợp với chữ “tử” (con cái). Ý rằng phụ nữ cộng thêm con cái nghĩa là “tốt”.

Chữ “tốt” phát âm là hǎo” bao gồm bộ “nữ” (phụ nữ) kết hợp với chữ “tử” (con cái). Ý rằng phụ nữ cộng thêm con cái nghĩa là “tốt”.

Bính Âm

Bính âm (pinyin) là quy tắc dùng chữ Latin để thể hiện cách phát âm của chữ Hán, được công bố từ năm 1956. Bính âm không thể dùng để thay thế chữ Hán mà chỉ nhằm giúp trẻ nhỏ học chữ Hán dễ hơn. Ngoài ra, bính âm ra đời còn giúp cho việc nhập liệu chữ Hán trên máy tính đơn giản hơn.

CÁC LOẠI HÌNH THƯ PHÁP

Chữ Triện: xuất hiện từ thời Chu, dùng để khắc con dấu và ấn tín.

Chữ Lệ: đạt đến đỉnh cao vào thời Đông Hán, dùng để khắc trên bia đá.

Chữ Khải: phát triển từ chữ Lệ, tới thời Đường bắt đầu hoàn thiện. Chữ Khải là cơ sở của chữ Hán hiện đại.

Chữ Thảo: là cách viết điều luyện với những đường nét cong hoặc tròn liền mạch và trừu tượng.

Chữ Hành: là cách viết các nét nhanh, liền mạch. Chữ Hành là dạng chuyển tiếp giữa chữ Khải và chữ Thảo.

Chữ Giản thể: là loại chữ được đơn giản hóa, sử dụng từ năm 1956. Mục đích của chữ Giản thể là nhanh chóng phổ cập chữ Hán, giúp người dân học chữ dễ dàng hơn.